Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

VIÊM QUANH KHỚP VAI

VIÊM QUANH KHỚP VAI
Mục tiêu
1.      Trình bày được nguyên nhân của các thể viêm quanh khớp vai
2.      Trình bày được triệu chứng lâm sàng của các thể viêm quanh khớp vai
3.      Nắm vững triệu chứng X quang của các thể viêm quanh khớp vai
4.      Trình bày được các biện pháp điều trị các thể đau khớp vai đơn thuần, giả liệt khớp vai và cứng khớp vai
1. Đại cương
Định nghĩa: viêm quanh khớp vai là một bệnh bao gồm những trường hợp đau và hạn chế vận động khớp vai và tổn thương ở phần mềm quanh khớp chủ yếu là gân, cơ, dây chằng và bao khớp. Không có tổn thương của đầu xương, sun khớp và màng hoạt dịch.
Vai là một khớp có rất nhiều động tác, động tác của cánh tay ra trước, ra sau, lên trên vào trong, ra ngoài, xoay tròn; và động tác của riêng vai: lên trên, ra sau, ra trước. Vì vậy có 5 khớp tham gia vào vận động của vai.
É    Khớp vai chính
É    Khớp ức - đòn.
É    Khớp cùng vai – đòn
É    Diện trược bả vai - ngực .
É    Khớp cùng vai cánh tay đòn đảm bảo sự vận động của xương bả
Một đặc điểm về giải phẫu của khớp vai là bao khớp rất lỏng lẻo, rộng, phía trên và dưới được tăng cường bởi một số gân cơ tạo nên bao hoạt dịch - gân - cơ.
É    Phía trước có cơ dưới bả và gân cơ nhị đầu tăng cường
É    Phía trên có gân cơ trên gai
É    Phía sau có cơ dưới gai và cơ tròn nhỏ
2. Đau khớp vai đơn thuần.
Hay gặp nhất biểu hiện chủ yếu là đau.
2.1. Nguyên nhân
Chấn thương: chấn thương mạnh vào vùng vai, hoặc là những chấn thương do nghề nghiệp, thói quen, thể thao gặp ở người trẻ.
Viên gân, thoái hoá, vôi hoá phần mềm thường gặp ở người trên 50 tuổi.
Liên quan thời tiết: lạnh và ẩm.
Một số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân.
2.2. Triệu chứng
Cơ năng
Tạo thành mũ các gân cơ quay ngắn của vai
Có thể xuất hiện tự nhiên, nhưng thường do khớp vai vận động quá mức hoặc vì chấn thương liên tiếp ở vai.
Đau ở vai, ở rảnh chữ V của cơ delta, đôi khi lan xuống cánh tay thậm chí cả cẳng tay, mu tay. Đau kiểu cơ học, tăng khi làm một số động tác của vai, khó nằm nghiêng, nhất là lúc tỳ vào vai.
Đau tăng khi nâng vai lên, có thể hạn chế vận động kín đáo do đau.
Thực thể
Không có hạn chế vận động chủ động và thụ động.
Không giảm cơ lực
Khi làm động tác co cánh tay đối kháng thì đau tăng.
Dấu hiệu viêm các cơ trên gai:
É    Có điểm đau chói ở dưới mỏm cùng vai ngoài hoặc ngay phía trước mỏm cùng vai, tương ứng với vị trí tổn thương của gân.
É    Làm động tác đối kháng cánh tay, đau tăng lên.
É    Đau khi dang tay từ 70 -90 độ.
Dấu hiệu viêm gân cơ dưới gai
É    Điểm đau chói khi ấn vào dưới mỏm cùng vai phía sau, ngoài.
É    Đau tăng khi quay người có đối kháng.
Dấu hiệu viêm gân bó dài cơ nhị đầu:
É    Khi ấn vào rãnh nhị đầu, gây đau ở phần trên - trong của mặt trước cánh tay.
É    Đau khi gấp cẳng tay trên cánh tay có đối kháng, hoặc khi dang hoặc hay đưa ra trước.
É    Tiến triển có thể dẫn đến đứt gân.
X.Quang
Hình ảnh X quang cần phải được so sánh 2 bên, dựa trên phim thẳng tư thế quay ngoài, quay trong và trung gian.
Khớp vai nói chung là bình thường, có thể thấy một hoặc nhiều điểm calci hoá tại gân.
Calci hoá thường thấy rõ nhất ở khoảng dưới mỏm cùng vai - mấu chuyển lớn.
2.3. Tiến triển
Thuận lợi
Nói chung có diễn tiến lành tính, đa số giảm dần rồi khỏi sau vài tuần đến vài tháng, thời gian này có thể nhanh hơn nhờ điều trị, có thể tái phát.
Không thuận lợi hay tiến triển xấu
Chuyển thành đau vai cấp, thậm chí cứng khớp vai.
Đặc biệt khi triệu chứng đau tồn tại kéo dài dù đã điều trị cần phải nghi ngờ có đứt các gân cơ quay ngắn, thường gặp sau 50 tuổi. Xác định chẩn đoán nhờ chụp cản quang, và nếu có thể được chứng minh khi làm thủ thuật ngoại khoa để nối lại.
Gân bị thoái hoá tăng dần khi không điều trị, sẽ dẫn đến khớp vai tuổi già, đặc trưng bởi:
É    Lâm sàng: ngoài đau khi vận động còn hạn chế vận động khi nâng cánh tay chủ động.
É    Xquang các dấu hiệu điển hình:
·    Gãy mỏm bả - cánh tay
·    Mấu chuyển bị mềm và có các hốc nhỏ
·    Hẹp khe mỏm cùng -cánh tay
·    Gai xương
·    Hẹp khe ổ chảo - Cánh tay
Khớp vai tuổi già chảy máu: là biến chứng hiếm gặp của đứt các gân quay do già, có chảy máu trong khoang khớp và túi thanh mạc dưới mỏm cùng -delta. Vai đau dột ngột, hoàn toàn không vận động được, kèm vết bầm tím ở cánh tay rất gợi ý. Chọc hút có máu, xác định chẩn đoán.
3. Giả liệt khớp vai.
Biểu hiện bằng giả liệt cơ delta do đứt đột ngột, rõ, cấp, mủ các gân cơ quay.
É    Người lớn tuổi (> 50 tuổi): Sau một vận động sai tư thế, chấn thương khớp vai, hoặc sau một gắng sức tác động lên mủ các gân cơ quay đã bị thoái hoá.
É    Ở người trẻ: Hiếm hơn, chơi thể thao, sau một chấn thương mạnh.
Đứt phần dài của cơ nhị đầu chỉ xảy ra sau 50 tuổi, sau gắng sức trên một gân đã bị thoái hoá.
3.1. Triệu chứng cơ năng
Đau dữ dội có khi kèm tiếng lắc rắc khi đứt đột ngột mủ các gân quay.
Đám bầm tím có thể xuất hiện sau đó vài ngày, ở phần trước trên cánh tay.
Đau kết hợp với hạn chế vận động rõ, mất động tác dạng chủ động của cánh tay (dấu hiệu của đứt gân trên gai) luôn luôn kết hợp với đứt gân dưới gai làm mất động tác xoay ngoài chủ động của cánh tay.
Đau biến mất một cách tự phát hoặc do điều trị, nhưng không phục hồi được khả năng vận động. Điều này loại trừ khả năng giảm vận động là do đau.
3.2. Thực thể
Các dấu hiện thần kinh bình thường có thể loại trừ liệt thực sự.
Mất động tác nâng vai chủ động, trong khi vận động thụ động hoàn toàn bình thường. Đây là dấu khách quan rất gợi ý.
Trường hợp đứt gân phần dài cơ nhị đầu, khám thấy đứt gân cơ ở phần trước dưới cánh tay, khi gấp cẳng tay có đối kháng.
3.3. Xquang
Trên phim chụp khớp vai có có thể có dấu gián tiếp của khớp vai người già.
Chụp khớp vai cắt lớp với thuốc cản quang chứng tỏ được sự đứt mủ các gân cơ quay, do thấy được hình ảnh cản quang thông thường giữa khoang khớp và túi thanh mạc dưới mỏm cùng - cơ delta.
Chụp scanner khớp có thể thấy được các tổ thương kèm theo.
4. Cứng khớp vai.
Biểu hiện của co thắt bao khớp (viêm bao khớp co thắt), bao khớp dày làm giảm vận động khớp ổ chảo - cánh tay.
Sự co cứng này của bao khớp là do rối loạn thần kinh dinh dưỡng lan toả, liên quan đến cả xương, cơ, mạch máu và da tạo nên bệnh cảnh đau do loạn dưỡng thần kinh phản xạ ở chi trên.
4.1. Nguyên nhân
Thường gặp sau 40 tuổi, ở người có căng thẳng thần kinh
Tổn thương do chấn thương khớp vai, bất động bó bột kéo dài.
Nhối máu cơ tim, đau thắt ngực nặng, viêm màng ngoài tim.
Lao phổi, ung thư phổi.
Liệt nữa người, bệnh Parkinson, u não.
Đau thần kinh cổ - cánh tay, Zona cổ - cánh tay.
Cường giáp, đái tháo đường, goutte.
Thuốc: Phenobarbital, INH, Ethionamide, kháng giáp tổng hợp, Iode131.
Cứng khớp vai đôi khi kết hợp với đau do loạn dưỡng bàn tay: đau, phù, biến đổi da với tăng xuất huyết, cứng khớp và cơ tạo nên hội chứng vai tay.
4.2. Triệu chứng cơ năng
Khởi đầu đau vai kiểu cơ học, có thi tăng về đêm.
Dần dần trong vài tuần, đau giảm dần trong khi vai cứng lại chủ yếu là động tác dạng cánh tay và quay ngoài.
4.3. Thực thể
Hạn chế vận động của khớp vai, cả chủ động và thụ động.
Hạn chế mọi động tác nhưng rõ hơn cả là dạng và quay ngoài.
Nếu cố gắng vận động, sẽ cảm thấy một sức cản cơ học và gây đau, các động tác còn có thể làm được là nhờ vai trò của diện trược bả vai - lồng ngực.
Có thể thấy điểm đau ở trước hoặc ở dưới mỏm cùng vai nhưng không có dấu viêm.
4.4. Xquang
Phim chụp thường: Bình thường hoặc thấy loãng xương, khe khớp ổ chảo - cánh tay bình thường.
Chụp khớp với thuốc cản quang: sẽ cho thấy hẹp khoang khớp:
É    Chỉ còn 5-10ml trong khi bình thường là 30- 35ml.
É    Giảm cản quang khớp, các túi cùng màng hoạt dịch biến mất.
5. Điều trị
5.1. Điều trị đau khớp vai đơn thuần
Khỏi tự nhiên sau vài tuần đến vài tháng, có thể tái phát
Có thể thúc đẩy nhanh quá trình khỏi bệnh nhờ điều trị:
É    Chủ yếu nhờ tiêm corticoid tại chỗ: tiêm vào dưới mõm cùng vai ngoài đối với gân cơ trên gai, tối đa là 3 lần cách nhau 15 ngày.
É    Cho thuốc giảm đau, có thể dùng thuốc chống viêm nonsteroid.
É    Cho gân bị tổn thương nghỉ ngơi, có thể kết hợp vật lý trị liệu đơn giản như sóng ngắn, siêu âm.
Tiến triển có thể xấu chuyển thành đau vai cấp, thậm chí cứng khớp vai.
Đặc biệt khi triệu chứng đau tồn tại kéo dài, mặc dù đã tiêm tại chỗ, cần phải nghi ngờ có đứt mủ các gân cơ quay ngắn, rất thường gặp về mặt giải phẫu, sau 50 tuổi, tổn thương tăng dần dần. Điều này giải thích đặc điểm tự nhiên là nghèo triệu chứng, khác hẳn với bệnh cảnh của giả liệt khớp vai, có các dấu hiệu đứt gân rõ ràng, đột ngột và mới xảy ra.
Sự đứt mủ này thường được xác định nhờ chụp khớp cản quang, và nếu có thể được chứng minh khi làm thủ thuật ngoại khoa để khâu lại.
Khi không điều trị, gân bị thoái hoá tăng dần, dẫn đến khớp vai tuổi già (hoặc đứt mủ gân các cơ quay ngắn do già) được đặc trưng bởi: ngoài đau khi vận động vừa phải và không hằng định, còn có hạn chế vận động khi nâng cánh tay chủ động.
5.2. Điều trị giả liệt khớp vai
Đứt mủ các gân cơ quay
É    Ở người trẻ: đứt mủ đặt thành vấn đề điều trị ngoại khoa: khâu lại chỗ đứt.
É    Ở người lớn tuổi: chỉ định ngoại khoa rất tế nhị, do tổn thương thoái hoá các gân lân cận. Cho nên trước hết phải điều trị nội khoa, bao gồm:
·    Tạm thời bất động tay ở tư thế dạng.
·    Cho thuốc giảm đau và chống viêm nonsteroid, cố gắng tránh tiêm corticoid tại chỗ đến mức có thể, vì sẽ làm hoại tử gân tăng lên.
·    Phục hồi chức năng: vận động liệu pháp tích cực, nhiệt trị liệu. Điều trị ngoại khoa có thể được chỉ định khi điều trị nội khoa thất bại.
Đứt gân bó dài cơ nhị đầu: không có chỉ định ngoại khoa trừ trường hợp đặc biệt.
5.3. Điều trị cứng khớp vai
Thường tự khỏi sau 1 - 2 năm
Quá trình này có thể được rút ngắn nhờ điều trị.
É    Điều trị thuốc giảm đau và chống viêm nonsteroid

É    Lý liệu pháp khi đã bắt đầu hết đau: vận động thụ động nhẹ nhàng kết hợp vận chủ động.
É    Điều trị đau do loạn dưỡng: Bêta bloquant, calcitonine, griseofulvine ít hiệu quả.

Điều trị ngoại khoa: cắt bao khớp

VIÊM MHD KHỚP GỐI MẠN TÍNH KHÔNG ĐẶC HIỆU

VIÊM MHD KHỚP GỐI MẠN TÍNH KHÔNG ĐẶC HIỆU
Ths.Bs. Nguyễn Thị Nga
Khoa CXK – BVBM
1. Đại cương
Viêm khớp không đặc hiệu được định nghĩa là bất kể loại viêm khớp nào có tiềm năng trở thành viêm khớp dai dẳng mà không đáp ứng đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán vào một loại viêm khớp đặc hiệu nào đó.
Viêm màng hoạt dịch khớp gối mạn tính không đặc hiệu là thể bệnh viêm khớp không đặc hiệu thường gặp trên lâm sàng, biểu hiện bởi tình trạng sưng đau một hay hai khớp gối kéo dài, tái phát nhiều lần song không tìm thấy nguyên nhân. Đây có thể là thể bệnh viêm mạn tính một hay hai khớp gối dai dẳng hoặc là triệu chứng đầu tiên của một bệnh toàn thể, trong đó giai đoạn sau biểu hiện đầy đủ các triệu chứng bệnh (viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vẩy nến, lupus ban đỏ hệ thống, bệnh gút...)
2. Chẩn đoán
2.1. Lâm sàng
Triệu chứng tại chỗ: Có thể viêm một hoặc hai khớp gối. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu: sưng, đau khớp gối; ít triệu chứng nóng, đỏ rõ rệt. Đa số các trường hợp có tràn dịch khớp gối kèm theo.
Triệu chứng toàn thân: ít thay đổi
2.2. Cận lâm sàng
Xét nghiệm máu ngoại vi: thường có tình trạng viêm rõ: tốc độ máu lắng tăng, protein C phản ứng (CRP) tăng.
Yếu tố dạng thấp (RE), anti CCP có thể âm tính hoặc dương tính. Trường hợp bệnh nhân có anti CCP dương tính dễ tiến triển thành viêm khớp dạng thấp.
HLA -B27 có thể âm tính hoặc dương tính. Bệnh nhân có HLA - B27 dương tính dễ tiến triển thành viêm cột sống dính khớp.
Xét nghiệm dịch khớp:
É    Tế bào học dịch khớp: Biểu hiện viêm màng hoạt dịch mạn tính không đặc hiệu như có rải rác tế bào viêm đơn nhân, bạch cầu trung tính, không thấy tình trạng gợi ý viêm nhiễm khuẩn hay lao.
É    Nuôi cấy vi khuẩn: âm tính
É    Nhuộm soi tìm AFB, PCR - BK: âm tính
Sinh thiết màng hoạt dịch: Qua nội soi khớp gối, dưới hướng dẫn của siêu âm hay sinh thiết mù (hiện ít làm) lấy bệnh phẩm làm mô bệnh học, kết quả: Viêm màng hoạt dịch mạn tính không đặc hiệu, không có những hình ảnh đặc hiệu gợi ý tới viêm mủ, lao, u màng hoạt dịch, viêm màng hoạt dịch lông sốt sắc tố v.v...
Chụp X quang khớp gối: thông thường không thấy tổn thương trên Xquang trong giai đoạn sớm, hoặc hình ảnh tổn thương hình bào mòn (các bệnh nhân này có thể tiến triển thành viêm khớp dạng thấp).
Chụp cộng hưởng từ khớp gối: Cho biết tình trạng viêm dày màng hoạt dịch, tràn dịch khớp gối, ít có giá trị trong chẩn đoán bệnh.
Siêu âm khớp gối: thường gặp dày màng hoạt dịch, tràn dịch khớp gối.
Mantoux: Âm tính
Xquang phổi: Bình thường
3. Chẩn đoán
3.1. Chẩn đoán xác định
Là chẩn đoán loại trừ: sau khi đã loại trừ các bệnh lý viêm khớp đặc hiệu khác.
Lâm sàng: sưng đau nóng khớp gối, tràn dịch khớp gối
CLS: phản ứng viêm dương tính, xét nghiệm dịch khớp và sinh thiết màng hoạt dịch có giá trị quyết định chẩn đoán
3.2. Chẩn đoán phân biệt
Nhiễm khuẩn: Vi khuẩn thông thường
Lao khớp
Thoái hóa khớp
Chấn thương
Viêm khớp vi tinh thể
Viêm màng hoạt dịch thể lông nốt sắc tố.
4. Điều trị
4.1. Nguyên tắc điều trị
Điều trị giai đoạn đầu là điều trị triệu chứng bằng các thuốc giảm đau, chống viêm nhóm không sreroid. Trường hợp diễn biến kéo dài (trên 06 tuần) cần kết hợp thêm thuốc điều trị cơ bản như trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp. Các thuốc điều trị triệu chứng có thể giảm liều hoặc ngừng hẳn. Các thuốc điều trị cơ bản thường dùng sớm, kéo dài.
4.2. Điều trị triệu chứng
Thuốc chống viêm không steroid
Chỉ định: Giai đoạn khớp viêm mức độ vừa phải, hoặc sau điều trị bằng thuốc corticoid. Lưu ý tránh tác dụng phụ của thuốc.
Dùng một trong các thuốc sau
É    Mobic 15mg/ ngày
É    Felden 20mg/ngày
Corticoid
Liệu pháp glucocorticoid đường toàn thân ngắn ngày: chỉ định trong trường hợp bệnh nhân không đáp ứng với thuốc nhóm không steroid và trường hợp viêm nặng. Liều lượng và cách dùng: trường hợp viêm nặng có thể dùng mini bolus: truyền tĩnh mạch 80 - 125mg methylprednisolon pha trong 250ml muối sinh lý trong 3 - 5 ngày. Sau liều này duy trì uống 1,5 - 2mg/kg/24h tính theo prednisolon. Giảm dần 10%/tuần. Thường sau 1 - 2 tháng có thể thay bằng thuốc chống viêm không steroid.
Glucocorticoid tại chỗ: trong trường hợp viêm kéo dài, tiêm khớp gối bằng Depo-medrol 40mg/1ml, Disprospan 4mg/1ml. Tiêm tại phòng vô khuẩn do bác sĩ chuyên khoa Cơ Xương Khớp đảm nhiệm. Mỗi liệu trình tiêm tại một khớp gối: 2 mũi tiêm cách nhau 7- 10 ngày. Sau 6 tháng mới được tiêm lại nếu có chỉ định.
Các thuốc giảm đau:
Theo phác đồ giảm đau của WHO.
Các thuốc giảm đau như Efferalgan, Ultracet
4.3. Điều trị cơ bản
Dùng một hoặc phối hợp hai, ba thuốc trong các nhóm sau (tùy mức độ viêm, đáp ứng với điều trị ban đầu):
Thuốc chống sốt rét tổng hợp
Hydroxychloquin (Plaquenil viêm 200mg), Hydrochlorid (Atabrine viên nén 100mg) liều 200 - 400mg/ngày hoặc Chloroquin liều 250 mg/ngày (viên 250mg).
Chống chỉ định: dị ứng với thuốc, người có suy giảm G6PD hoặc có tổn thương gan.
Tác dụng phụ: chán ăn, nôn, đau thượng vị, sạm da, khô da, viêm tổ chức lưỡi ở võng mạc. Cần kiểm tra thị lực, soi đáy mắt mỗi 6 tháng và không dùng quá 6 năm.
Methotrexat
Chỉ định: đây là thuốc được lựa chọn đầu tiên
Chống chỉ định: hạ bạch cầu, suy gan thận, tổn thương phổi mạn tính
Tác dụng phụ: thường gặp loét miệng, nôn, buồn nôn. Có thể gây độc tế bào gan và tủy.
Liều dùng: 10 - 20mg/tuần, tiêm bắp hoặc uống. Thường khởi đầu bằng liều 10mg uống một lần vào một ngày nhất định trong tuần... Thuốc có hiệu quả sau 1 - 2 tháng.
Hạn chế tác dụng phụ của Methotrexat nên bổ sung acid folic, liều bằng liều methotrexat (viên 5mg, 02 viên/tuần chia 2 ngày trong tuần với liều 10mg methotrexat/tuần).
Sulfasalazine (Salazopyrin)
Chỉ định: dùng cho bệnh nhân có HLA-B27 dương tính (trường hợp bệnh có xu hướng chuyển viêm cột sống dính khớp).
Liều lượng: Liều 1 – 2 g/ngày
Tác dụng phụ: Rối loạn tiêu hóa, chán ăn, ban ngoài da, bọng nước, loét miệng, protein niệu, hội chứng thận hư, viêm giáp trạng, giảm tiểu cầu, bạch cầu, huyết tán...
5. Theo dõi và quản lý
Hướng dẫn bệnh nhân điều trị thuốc thường xuyên và khám định kỳ hàng tháng theo dõi lâm sàng và xét nghiệm: tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng, CPR, chức năng gan, thận... để điều chỉnh thuốc và phát hiện sớm tiến triển của bệnh thành các bệnh như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lupus.... Hiện nay có thang điểm hướng dẫn của Hội Thấp khớp học châu Âu (EURLAR 2009) hay thang điểm Leiden - dựa trên các tiêu chuẩn dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm để dự báo khả năng tiến triển của viêm màng hoạt dịch khớp mạn tính không đặc hiệu thành bệnh viêm khớp dạng thấp, từ đó có thể điều trị sớm cho bệnh nhân bằng các thuốc điều trị cơ bản.
Theo dõi nhằm dự phòng các tác dụng không mong muốn của thuốc.

Hướng dẫn bệnh nhân luyện tập tránh dính và biến dạng khớp gối.

VIÊM MAO MẠCH DỊ ỨNG

VIÊM MAO MẠCH DỊ ỨNG
Ts Bs Nguyễn Văn Đoàn
Bộ môn MDDU ĐHYHN
MỤC TIÊU
1.        Nắm được triệu chứng chính của bệnh
2.        Chẩn đoán phân biệt được với một số bệnh
3.        Nắm được tiên lượng bệnh
4.        Nắm được một số phương pháp điều trị thông thường
1. Vài nét về lịch sử về hội chứng Schoelein – henoch
Lần đầu tiên Heberden (1801) đã thông báo một trường hợp bệnh nhân 5 tuổi bị đau bụng, nôn, ỉa phân đen, đau khớp, xuất huyết dạng chấm nốt ở hai chân và có máu trong nước tiểu. Sau đó Willan đã mô tả trường hợp tương tự với tiêu đề “purpura urticans”.
Năm 1837 Johann Schoelein mô tả tình trạng gọi là “peliosis rheumatica” với các biểu hiện đau khớp, xuất huyết điển hình. 37 năm sau (1874) học trò cũ của Schoelein là Eduard Henoch mô tả hội chứng mới gồm xuất huyết, đau bụng dữ dội, ỉa phân đen ngoài những biểu hiện tương tự: thấp khớp ở các khớp cổ tay, bàn ngón tay, cổ chân. Trontg lần tái bản thứ 8 sách giáo khoa của mình, Henoch cho rằng viêm thận là một biến chứng của bệnh.
Những năm 1895-1914 Osler đã công bố ở Anh nhiều bài báo về các biểu hiện của HSP có liên quan đến các hiện tượng dị ứng như: phản ứng quá mẫn, hồng ban đa dạng và bệnh huyết thanh, do đó thuật ngữ xuất huyết dạng phản vệ “anaphylactoid purpura” được Frank đề nghị đã được sử dụng rộng rãi ở Mỹ, trong khi đó các tác giả châu Âu và Nhật thích dùng tiêu đề theo tên người tìm ra và thuật ngữ “hội chứng Schoelein- Henoch” thường được sử dụng cũng như tên gọi ban xuất huyết Schoelein- Henoch (HSP) trở thành phổ biến và kinh điển. Osler cũng nhận ra rằng những biểu hiện lâm sàng như đau bụng, xuất huyết, viên thận do hoại tử các mao mạch nhỏ.
Năm 1948, Gairdner, một bác sĩ nhi khoa người Anh xếp hội chứng bệnh này vào trong thư mục. Từ đó hội chứng Schoelein Henoch được chính thức công nhận.
Vào những năm 1950, đặc điểm về mô học của viêm mạch hoại tử ở các mao mạch nhỏ được mô tả gồm hiện tượng thâm nhiễm quanh mạch rất nhiều bạch cầu đa nhân trung tính thoái hoá, nhưng tổn thương này không đặc hiệu vì là biểu hiện của nhiều bệnh trong đó có HSP.
Năm 1969, Jean Berger phát hiện sự lắng đọng ở vùng gian mạch các phức hợp của IgA trong bệnh thận do IgA tiên phát giống như viêm thận do HSP, vì vậy y học đã dùng tên của tác giả này đặt cho thể bệnh tiên phát ở thận (bệnh Berger).
Năm 1973, Baart (vùng Faille - Kuyper) phát hiện lắng đọng IgA tại mao mạch của vùng da tổn thương ở HSP. Vào năm 1980, Hélène Conley dùng kỹ thuật kháng thể đơn dòng của chuột chống lại 2 lớp phụ của IgA ở người, phát hiện sự lắng đọng gian mạch trong bệnh Berger và HSP chủ yếu là dưới lớp IgA1. Hai năm sau, Sevenson thông báo sự xuất hiện đồng thời IgA và C3 trong các mạch của da, ruột và các vùng gian mạch ở một người lớn bị HSP. Chính nhờ khả năng xác định kháng thể gây bệnh trong mô và huyết thanh bằng kính hiển vi miễn dịch huỳnh quang đã phân loại một số viêm mạch nhỏ, phát hiện sự lắng đọng IgA tại mạch máu là một dấu hiệu của Schoelein- Henoch.
2. Dịch tễ học
Tuổi:HSP xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu ở trẻ em 2 - 16. Tỷ lệ mới mắc ở trẻ 0-14 tuổi là 13,5/1.000.000 tại thành phố Belfast (Irlande), 14 và 18/1.000.000 ở Đan Mạch, tỷ lệ này bằng 8,5/100000 tại Jordani, ở Pháp thì cao hơn = 21,75/1.000.000. Ở người lớn, tỷ lệ của HSP là 0,8/1.000.000 tại Đan mạch và Pháp, và dưới 0,12/1.000.000 ở Anh. Tỷ lệ trẻ em/người lớn thay đổi từ 16 - 22.
Giới:Nhiều tác giả cho rằng bệnh gặp nhiều ở nam hơn cả nữ, người lớn tỷ lệ giới tính cũng giống như trẻ em: tỷ lệ nam/nữ = 1,5/1. Một số tác giả thông báo nam nữ có tỷ lệ ngang nhau, nhưng theo một nghiên cứu của Nhật thì nữ lại chiếm ưu thế.
Mùa:Có thể gặp các tháng trong năm nhưng hay xảy ra vào mùa đông xuân.
Chủng tộc: Bệnh gặp ở mọi chủng tộc. Một số báo cáo lâm sàng gần đây cho thấy ở một số nước như Anh, Pháp, Phần Lan, Nhật, Singapo, Đài Loan số lượng bệnh nhân gặp nhiều so với Bắc Mỹ, Châu Phi. Tại Nam Mỹ số lượng bệnh nhân bị viêm cầu thận do HSP hiếm gặp hơn trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân bị viêm cầu thận ở khu vực này rất cao. Một số báo cáo gần đây cho rằng HSP cũng như bệnh thận IgA tiên phát người da đen rất hiếm mắc. Sự khác nhau trên có thể do cả môi trường và chủng tộc.
3. Mô bệnh học
Hội chứng Schoelein- Henoch với biểu hiện viêm mạch với lắng đọng ưu thế IgA miễn dịch trên các mạch nhỏ ở da, đường tiêu hoá, cầu thận và kết hợp với đau khớp hoặc viêm khớp.
3.1. Hình ảnh mô bệnh học trong tổn thương da
Tổn thương ưu thế ở các mạch nhỏ và nhất là các tiểu tĩnh mạch sau mao mạch với hình ảnh điển hình là viêm mạch Leucocytoclastic tại trung bì, biểu hiện bằng sự kết hợp của các hình ảnh sau:
É    Thâm nhiễm trong mạch và quanh mạch các bạch cầu đa nhân trung tính thoái hoá và những mảnh vỡ của nhân dạng bụi, còn gọi là “Leukocytoclasie”. Nếu tổn thương cũ hơn thì các bạch cầu đa nhân trung tính nhanh chóng bị thay thế bởi các tế bào đơn nhân, lympho bào và các đại thực bào.
É    Hoại tử thành mạch dạng Fibrin (màu Fibrin) với các mức độ khác nhau.
É    Hồng cầu thoát mạch.
É    Đôi khi có tắc nghẽn mạch do sưng phù các tế bào nội mô gây ra.
É    Đôi khi có phù trung bì, hoại tử thương bì.
É    Có thể thấy bạch cầu ái toán lại các tổn thương mới.
Người ta còn gọi hình ảnh trên là viêm mạch quá mẫn hoặc viêm mạch dị ứng.
Nghiên cứu bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang thấy lắng đọng IgA. C3, Fibrinogen ở vị trí tổn thương da mới (trong 24h đầu), lắng đọng IgM và hiếm hơn là IgG. Tại vùng da lành có thể gặp các tổn thương trên kèm theo lắng đọng IgA nhưng mức độ nhẹ hoặc không có.
3.2. Hình ảnh vi thể của tổn thương thận
Sinh thiết thận cho phép xác định mức độ tổn thương thận và tiên lượng bệnh.
Bệnh lý thận ở giai đoạn tiến triển thường gặp 2 tổn thương cơ bản sau:
É    Tăng sinh các tế bào ở mô gian mạch thành đoạn và ổ hoặc lan toả (không gặp trong trường hợp tổn thương tối thiểu). Sự tồn tại của tăng sinh biểu mô là một yếu tố ổn định trong viêm thận cầu thận do HSP. Trong đó: tổn thương ổ (focal) là tổn thương một số chứ không phải toàn bộ cầu thận, tổn thương lan tỏa (difffuse) nghĩa là gần như tất cả các cầu thận đều bị tổn thương và tổn thương đoạn (segmental) là trong cầu thận bị tổn thương chỉ có một phần mao mạch bị tổn thương trái với tổn thương ở toàn bộ cầu thận (global).
É    Hình thành các liềm biểu mô, các liềm biểu mô thường là tổn thương đoạn và chỉ thấy tổn thương nặng. Các liềm biểu mô chủ yếu được tạo thành từ các tế bào biểu mô thuộc thành của cầu thận, từ các đại thực bào, tế bào lympho B và các bạch cầu đa nhân trung tính. Các liềm biểu mô ban đầu là các tế bào, sau đó các tế bào xơ hoá và cuối cùng thành tổ chức xơ, sự có mặt của liềm biểu mô nếu trên 50% số lượng các cầu thận thì tiến triển thường không thuận lợi và một nửa số đó có nguy cơ tiến triển thường không thuận lợi và một nửa số đó có nguy cơ tiến triển thành suy thận giai đoạn cuối.
Các tổn thương ống kẽ thận tiến triển song song với tổn thương cầu thận và thường quan sát thấy trong các tổn thương thận nặng.
Trên kính hiển vi miễn dịch huỳnh quang có thể phát hiện các lắng đọng lan toả IgA gian mạch và/hoặc thành mao mạch, phối hợp với các lắng đọng IgG, IgM, C3, fibrinogen còn các thành phần sớm của bổ thể như C1q, C4 thì không thấy.
Dựa vào hình ảnh mô học có thể phân ra nhiều mức độ tổn thương thận theo cách phân loại viêm thận HSP của tổ chức nghiên cứu quốc tế về bệnh thận ở trẻ em (ISKDC).
É    Giai đoạn I: Tổn thương cầu thận tối thiểu
É    - Giai đoạn II: Tăng sinh mô gian mạch đơn thuần: ổ, lan toả
É    Giai đoạn III: Tăng sinh mô gian mạch + biến dạng hình liềm và /hoặc có các tổn thương đoạn (hoại tử hoặc xơ hoá) < 50% các cầu thận: ổ, lan toả
É    Giai đoạn IV: Tăng sinh mô gian mạch + biến dạng hình liềm và /hoặc có các tổn thương đoạn (hoại tử hoặc xơ hoá) 50 – 75% các cầu thận: ổ, lan toả.
É    Giai đoạn V: Tăng sinh mô gian mạch + biến dạng hình liền và /hoặc có các tổn thương đoạn (hoại tử hoặc xơ hoá) 50 – 75% các cầu thận: ổ, lan toả.
É    Giai đoạn VI: Viêm cầu thận giả tăng sinh màng (glomérulonéphritepseudo - membranoproliférative).
Mức độ nặng của tổn thương cầu thận được dựa trên % số cầu thận có tổn thương đoạn và liềm và nó sẽ chia ra dưới giai đoạn tuỳ theo hiện tượng tăng sinh gian mạch là ổ hay lan toả. Mối tương quan lâm sàng và bệnh học của phương pháp phân loại này đã được kiểm tra bằng các nghiên cứu tiến cứu, tuy nhiên các tác giả ghi nhận rằng giai đoạn VI không được coi là mức độ nặng nhất mà mức độ nặng của nó được đánh giá tốt nhất theo tần số biến dạng liềm và xơ.
3.3. Tiêu hoá
Nội soi dạ dày - tá tràng cho thấy xuất huyết màng nhày, viêm dày niêm mạc và những đám hoại tử hoặc loét.
Tại niêm mạc hỗng tràng có thể lắng đọng IgA, C3, ít lắng đọng IgG và Properdin, phối hợp với thâm nhiễm lympho, hiếm khi thấy viêm mạch Leucocytoclastic.
4. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
4.1. Nguyên nhân
Nguyên nhân của HSP đến nay chưa rõ, thường khởi phát sau một nhiễm trùng đường hô hấp trên vài tuần trước khi bệnh bắt đầu. Sự phát hiện liên cầu trong họng và sự tăng tỷ lệ streptolysine O góp phần cơ chế sinh bệnh của liên cầu khuẩn. Ngoài ra, một số vi khuẩn khác cũng bị nghi ngờ là nguyên nhân như: tụ cầu, trực khuẩn lao, varicella, adenovirus, nấm ….
Một số bệnh nhân sau khi dùng thuốc, tiêm phòng vaccin, côn trùng đốt.
4.2. Cơ chế bệnh sinh
Qua một số nghiên cứu thực nghiệm trên mô hình động vật và các quan sát ở người cho thấy rằng phức hợp miễn dịch như là cơ chế chủ yếu trong biểu hiện của các bệnh viêm mạch nhỏ, tuy nhiên sự khu trú PHMD lưu hành ở các vị trí mạch đặc biệt của các bệnh vẫn còn là suy đoán. Sự phát hiện lắng đọng PHMD chứa IgA, C3, ít lắng đọng IgG và properdin tại các vùng gian mạch ở mao mạch da, hỗng tràng của các trẻ em bị viêm thận do HSP kết hợp với các quan sát thấy nồng độ IgA huyết thanh tăng trong giai đoạn cấp của bệnh, các kết quả thu được này góp phần giải thích căn nguyên miễn dịch.
Mô hình động vật: Một bệnh giống HSP đó là Purpura hemorrhagica được quan sát thấy ở ngựa ngay một một nhiễm trùng đường hô hấp trên do Streptococcus equi. Bệnh này bao gồm một xuất huyết trên da với hiện tượng viêm mạch Leucocytoclastic, thường có viêm cầu thận, tăng IgA huyết thanh và xuất hiện PHMD lưu hành mà thành phần bao gồm các kháng nguyên của Streptococcus equi và các IgA đặc hiệu.
PHMD chứa IgA: Vào năm 1971 Trygstad và Stiehm đã quan sát thấy sự tăng IgA huyết thanh liên quan đến dưới lớp IgA1 ở 50% số bệnh nhân trẻ em của họ. Hai ông cũng nhật thấy sự giống nhau về lâm sàng giữa hội chứng HSP với các bệnh lý cầu thận trên thực nghiệm trong đó có bệnh thân do IgA tiên phát, sự giống nhau này đã dẫn đến giả thiết cho rằng HSP dường như là một bệnh có liên quan đến lắng đọng PHMD chưa IgA 1 ở các mạch máu và ở cầu thận.
4.3. Liên quan giữa hội chứng HSP và bệnh thận do IgA tiên phát (bệnh Berger)
HSP vô căn mãn tính và bệnh Berger được một số tác giả cho là những thể khác nhau của cùng một bệnh, trên thực tế chúng có các điểm giống nhau làm cơ sở lập luận thuận lợi cho kết luận này, đó là:
Dấu hiệu tổn thương thận trên lâm sàng tương đối giống nhau. Người ta đã ghi nhận một số trường hợp xuất hiện một đợt cấp hệ thống của HSP sau nhiều năm tiến triển bệnh Berter.
Mô bệnh học ở thận giống hệt nhau:
Các bất thường miễn dịch giống nhau:
É    Tăng IgA huyết thanh
É    Lắng đọng mô gian mạch IgA (dưới lớp IgA1)
É    Xác định được PHMD chứa IgA
É    Xuất hiện yếu tố dạng thấp mà bản chất là IgA.
É    Tăng số lượng lympho B – sIgA tuần hoàn và sự sản xuất IgA in vitro của các tế bào này trong cả 2 bệnh.
Khả năng tái phát bệnh ở thận ghép gặp trong cả 2 bệnh.
Trong cả 2 bệnh đều gặp lắng đọng IgA, bổ thể tại mạch của vùng da lành.
HSP và bệnh Berger đôi khi cùng xảy trong một gia đình với nhóm HLA giống nhau.
5. Triệu chứng.
HSP là một bệnh hệ thống, triệu chứng đầu tiên xuất hiện sau nhiễm trùng đường hô hấp trên với các biểu hiện: mệt mỏi, sốt nhẹ, rối loạn tiêu hoá, tiếp đó là ban đặc hiệu và các triệu chứng lâm sàng khác.
5.1. Lâm sàng
Biểu hiện ở da
Dấu hiệu ngoài da là triệu chứng đầu tiên gặp trên 50% các trường hợp ở giai đoạn tiến triển.
Vị trí: mặt duỗi tứ chi, quanh 2 mắt cá trong và ngoài, đùi, mông, cánh tay, cẳng tay. Hiếm gặp ở thân mình, đôi khi ở tai, ống tai, mũi, bộ phận sinh dục ngoài.
Tính chất:
É    Không ngứa
É    Tổn thương là ban xuất huyết do thành mạch có dạng chấm, nốt, thường là gờ cao hơn mặt da (do thâm nhiễm) có thể có mày đau, bọng nước hoặc bầm máu và ban hoại tử.
É    Tổn thương bị ảnh huởng bởi tư thế đứng (tăng lên bởi tư thế đứng).
É    Có thể phát hiện phù: phù mềm, ấn lõm thường khu trú ở da đầu, vùng quanh hố mắt, tai, mu tay, mu chân, gót, đôi khi ở bộ phận sinh dục. Phù hay gặp ở trẻ nhỏ.
É    Tổn thương có tính đối xứng.
Biểu hiện tai khớp
Gặp trong 75% các trường hợp và là dấu hiệu mở đầu trong khoảng 25%.
Vị trí: Các khớp gần kề với vị trí của ban xuất huyết : cổ chân, gối, khuỷu, hiếm khi ở cổ tay và bàn tay. Vai, ngón chân và cột sống cũng có khi bị ảnh hưởng.
Tính chất:
É    Đau khớp, viêm khớp mức độ trung bình, hạn chế cử động.
É    Tổn thương thường đối xứng.
É    Phù quanh khớp, đôi khi đau gân phối hợp.
É    Tổn thương khớp được điều trị khỏi trong vài giờ hoặc vài ngày nhưng có thể tái phát.
É    Không làm biến dạng khớp.
É    Tổn thương cơ có thể thấy, sinh thiết cơ có thể phát hiện các tổn thương hoại tử trên một động mạch cơ.
Tiêu hoá 
Gặp trong 37–66% các trường hợp, đôi khi là khởi đầu của bệnh.
Đau bụng vùng quanh rốn ít dữ dội, liên tục, trội lên khi ấn vào, có thể đau thượng vị lan toả hoặc khu trú, phối hợp với nôn và buồn nôn.
Kéo dài vài giờ hoặc vài ngày, hay tái phát.
Xuất huyết hoá có biểu hiện nôn ra máu, ỉa phân đen hoặc phân máu. Xuất huyết này có thể kéo dài trong nhiều ngày kèm theo đau bụng dữ dội.
Biến chứng trầm trọng nhất của tổn thương đường tiêu hoá có thể quan sát thấy trong 5% các trường hợp là lồng ruột cấp và thường ở vị trí hồi - hồi tràng.
Có thể xảy ra tắc ruột, nhồi máu, hoặc thủng đại tràng, giãn đại tràng.
Có thể viêm tuỵ cấp.
Tổn thương thận
Gặp trong 25 - 50% trong giai đoạn cấp.
Đái máu đại thể hoặc vi thể, protein niệu, trường hợp protein niệu kéo dài thường phối hợp với đái máu vi thể, đôi khi có bạch cầu niệu mà không có nhiễm trùng.
Xuất hiện sớm sau 1 đến vài tuần hoặc muộn hơn một vài biểu hiện khởi phát khác.
Hội chứng thận hư không đơn thuần có các biểu hiện:
É    Protein niệu > 3g/24h ở người lớn và > 40mg/m2 cơ thể/h ở trẻ em.
É    Phối hợp với albumin máu < 30g/l.
É    Dấu hiệu không đơn thuần biểu hiện bằng sự tăng huyết áp và /hoặc suy thận.
Hội chứng viêm thận cấp cũng có thể gặp (được xác định bằng sự xuất hiện đái máu và protein niệu < 3g/24h ở người lớn, < 40mg/m2/h ở trẻ em đồng thời có thể có hoặc không suy thận và tăng huyết áp phối hợp.
Một số trường hợp trẻ em có hội chứng viêm cầu thận tiến triển nhanh, biểu hiện lâm sàng như sau: Protein niệu số lượng nhiều một cách không ổn định, đái máu và cơ bản là sự hư hỏng nhanh chóng phần lớn chức năng thận. Những bệnh nhân có hội chứng này thì có tiên lượng rất xấu.
Suy thận mãn là dấu hiệu nặng của bệnh.
Triệu chứng tại các cơ quan khác: ít gặp hơn.
Viêm tinh hoàn: tinh hoàn đau và sưng, thường tự khỏi sau vài ngày.
Tim: có thể gặp các biểu hiện tổn thương.
É    Viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim.
É    Nhồi máu cơ tim trên động mạch vành bình thường có liên quan đến các viêm mạch nhỏ của cơ tim.
É    Rối loạn nhịp tim.
É    Suy tim sung huyết do HSP.
Phổi:
É    Xuất huyết trong các phế nang là biến chứng rất hiếm trong HSP nhưng rất nặng. Dấu hiệu này không bao giờ là triệu chứng mở đầu của bệnh.
É    Tràn dịch màng phổi tơ huyết và xuất huyết.
Biểu hiện hệ thần kinh trung ương.
É    Có thể chỉ là đau đầu hay rối loạn hành vi.
É    Trường hợp nặng hơn: chảy máu màng não, co giật hoặc hôn mê.
Mắt: Viêm mạch võng mạc với xuất huyết đáy mắt đã quan sát thấy ở một số bệnh nhân.
5.2. Cận lâm sàng
Công thức máu: Số lượng hồng cầu bình thường, số lượng bạch cầu đa nhân trung tính tăng, có thể tăng bạch cầu ái toan, số lượng tiểu cầu bình thường.
Thời gian máu chảy máu đông bình thường.
Máu lắng tăng > 20mm.
Nồng độ IgA huyết thanh tăng gặp trong khoảng 50% các trường hợp.
Bổ thể bình thường, hoặc tăng trong đợt cấp.
6. Chẩn đoán
6.1. Chẩn đoán xác định
Dựa vào lâm sàng là chủ yếu, dựa vào các triệu chứng đầy đủ và điển hình như: Ban xuất huyết do mạch ở da, đau khớp, biểu hiện tiêu hoá, thận.
Mặc dù như vậy, chẩn đoán đôi khi khó khăn khi các triệu chứng xuất hiện kín đáo hoặc không đầy đủ.
Năm 1990 hội thấp khớp Hoa Kỳ (ARA) đã đưa 4 tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng Schoelein - Henoch :
É    Ban xuất huyết thành mạch.
É    Tuổi < 20 khi bắt đầu bệnh
É    Đau bụng: lan toả tăng lên sau các bữa ăn, thiếu máu đại tràng với thường xuyên ỉa ra máu.
É    Hình ảnh viêm mạch leucocytoclastic trên sinh thiết da.
Bệnh nhân được chẩn đoán HSP nếu có ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn nêu trên.
6.2. Chẩn đoán phân biệt
Cần chẩn đoán phân biệt trong các trường hợp biểu hiện ban đầu không điển hình hoặc ở các thể đơn triệu chứng.
Ban xuất huyết cần phân biệt với:
É    Xuất huyết do nhiễm trùng: nhiễm trùng huyết do não mô cầu: biểu hiện rất cấp tính, triệu chứng nhiễm trùng rầm rộ, rối loạn các yếu tố đông máu (biểu hiện đông máu nội mạch lan toả), tình trạng chung rất nặng.
É    Xuất huyết giảm tiểu cầu: số lượng tiểu cầu giảm.
É    Luput ban đỏ hệ thống: nếu ban kết hợp với đau khớp.
É    Viêm nút quanh động mạch: biểu hiện ngoài da khác với HSP, ngoài ra có các dấu hiệu thần kinh ngoại vi.
Viêm khớp cần phân biệt với bệnh Kawasaki, biểu hiện lâm sàng chủ yếu là ban ở niêm mạc phối hợp với hạch to nhiều nơi.
Biểu hiện bụng: cần phân biệt với các cấp cứu ngoại khoa và đôi khi một mở bụng thăm dò là cần thiết để không tiến triển thành lồng ruột hoặc viêm phúc mạc.
Thận: phân biệt với viêm thận do liên cầu trong trường hợp tăng tỷ lệ Streptolysin O và tìm thấy liên cầu ở thanh quản.
7. Tiến triển và tiên lượng
Da
Tổn thương da thường kéo dài 2 – 3 tuần sau đó mờ dần đi vào có thể tái phát vài đợt mới, các đợt nối tiếp nhau kéo dài khoảng 3 tháng hoặc có thể lâu hơn kể từ khi bắt đầu phát bệnh.
Khớp
Các triệu chứng về khớp xuất hiện thoáng qua và mất đi không để lại di chứng.
Tiêu hoá
Triệu chứng mở đầu và đôi khi là biến chứng nguy hiểm như lồng ruột, tắc ruột thủng ống tiêu hoá, giãn đại tràng có trường hợp phải cấp cứu ngoại khoa.
Thận
Đa số là khỏi hoàn toàn, một số ít tiến triển thành suy thận mãn là giai đoạn cuối cùng của các loại tổn thương thận. Do đó, mức độ nặng của tổn thương thận là yếu tố quyết định tiên lượng của bệnh
Biểu hiện thận chung của HSP trên lâm sàng là:
É    Hồng cầu niệu hoặc Protein niệu hay gặp hơn là cả 2, trong đó 20% gặp đái máu đại thể.
É    Một số trường hợp biểu hiện viêm thận cấp với triệu chứng: thiểu niệu, phù, tăng huyết áp, Nitơ phi protein như Ure và Creatinin trong máu tăng cao.
Khoảng 10% các trường hợp có tổn thương thận với hội chứng thận hư là dấu hiệu tiến triển không thuận lợi
Bệnh nhân có tiên lượng nặng (nguy cơ tiến triển thành suy thân mãn):
É    Hội chứng thận hư hoặc chủ yếu là có Protein niệu quá 1g/24h trên lâm sàng.
É    Chức năng thận bị suy giảm một cách nhanh chóng ngay từ đầu.
É    Tuổi > 50, tăng huyết áp.
É    Trên vi thể tăng sinh tế bào cả trong và ngoài mạch với biến dạng hình liềm kèm theo, hoặc giai đoạn IV, V theo phân loại về mô học của ISKDC.
Suy thận mãn giai đoạn cuối là tiên lượng nghiêm trọng nhất.
8. Điều trị
Không có liệu pháp điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng, các biện pháp điều trị bao gồm:
Nghỉ ngơi
Nghỉ ngơi 1- 2 tháng
Ăn nhẹ (chia nhiều bữa, hạn chế chất xơ) nhất là các trường hợp có biểu hiện ở hệ tiêu hoá.
Giảm đau và kháng viêm không steroid
Giảm đau (paracetamol và dẫn chất) : Sử dụng trong các trường hợp đau khớp, đau cơ, sốt.
Kháng viêm không steroid: Sử dụng để điều trị đau khớp nhiều không đáp ứng với giảm đau thông thường. Không dùng trong các trường hợp có biểu hiện tiêu hoá phối hợp.
Corticosteroides
Tác dụng tốt với các rối loạn tiêu hoá, biến chứng hệ thống thần kinh trung ương, phù mô, đau khớp, hội chứng thận hư.
Liều dùng: Prednisolon 1 - 2mg/kg cân nặng/ngày trong 3 – 4 tuần sau đó dùng cách ngày hoặc giảm dần liều. Có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác. Với các trường hợp tổn thương thận nặng như viêm cầu thận có hội chứng thận hư có thể dùng bolus corticoid liều 500 - 1000mg Methyl prednisolon /24h trong 3 ngày liên tiếp sau đó giảm xuống liều thông thường 2mg/kg/24h và giảm dần liều, phương pháp này có tác dụng tốt làm cải thiện các triệu chứng trên lâm sàng cũng như trên vi thể, giảm tổng liều corticoid cũng như thời gian nằm viện.
Cần phải lưu ý các tác dụng phụ của corticoid như hội chứng giả Cushing, tăng huyết áp, phù do giữ muối và nước, đái tháo đường, nhiễm khuẩn, rậm lông…
Các thuốc ức chế miễn dịch
Dùng trong các trường hợp tổn thương thận nặng như viêm thận cầu thận có tăng sinh ngoài mạch ảnh hưởng tới > 75% số cầu thận.
Các chế phẩm hay được dùng đó là Azathioprin liều 3- 4mg/kg/24h phối hợp với corticoides giảm dần liều trong 6 tháng đến 1 năm, hoặc có thể dùng Cyclophosphamid.
Kháng sinh
Penicillin đôi khi tác dụng tốt trong trường hợp có nguyên nhân là nhiễm khuẩn liên cầu.
Ghép thận
Áp dụng cho các trường hợp suy thân giai đoạn cuối tuy nhiên có tái phát lại viêm thận do HSP ở một số trường hợp bệnh nhân đã được ghép thận.
Các biện pháp khác
Được sử dụng cho dù hiệu quả chưa rõ ràng:
É    Lọc huyết tương.
É    Kháng Histamin được dùng nhưng hiệu quả chưa được chứng minh.
É    Thuốc chống co thắt dùng bổ sung trong các trường hợp tổn thương hệ tiêu hoá.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1.      Trần Ngọc Ân (1978), “Biểu hiện khớp trong bệnh Schoelein- Henoch”, Bệnh thấp khớp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Tr. 311 – 314.
2.      Trịnh Thị HảI Châu(2001), “Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh Schoelein- Henoch tại Khoa Dị ứng-MDLS Bệnh viện Bạch Mai”. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú các bệnh viện, Hà nội.
3.      Lưu Phương Lan (2001) “ Một số kết quả bước đầu nghiên cứu tình hình hội chứng Schoelein- Henoch tại Khoa Dị ứng-MDLS Bệnh viện Bạch Mai”. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ Y khoa, Hà nội.
4.      Lâm Thị Vinh, Phan Thị Minh Hương, Trần Văn Huy (2000), “Schoelein – Henoch và thương tổn niêm mạc tá tràng”, Y học thực hành, số 5 (381), Tr. 25 – 27.
5.      Lê Thị Tiến Vinh (1997), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và bước đầu đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm cầu thận Schoelein- Henoch” Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Hà Nội.
Tiếng Anh – Tiếng Pháp
6.      Appel G.B., Radhakrishnan J., D’ Agati V. (2000), “Schoelein-Henoch purpura”, in: Brenners B.M (eds). Brenner & Rector’s The kidney, 6th edition, Vol 2, W.B Sanunders Company, pp. 1379 – 1381.
7.      Coppo R., Amore A., Gianoglio B. (1999), “Clinical features of Henoch-Schoelein purpura”, Ann Med Interne, 150 (2), pp. 143 – 50.
8.      Foster B.J., Bernard C., Drummond K.M., et al (2000), “Effective therapy for severe Henoch – Schoelein purpura nephritis with prednisone and azathioprine: a clinical and histopathologic study”, J Pediatr, 136(3), pp. 370 – 375.
9.      Habif T.P., (1990), “Leukocytoclastic vasculitis”, in: Clinical Dermatology, 2nd edition, Mosby, pp. 462 – 466.
10.  Haycock G.B. (1998), “The nephritis of Henoch-Schoelein purpura”, in: Davison A.M., Cameron J.S., Grunfeld J.P., et al (eds), Oxford textbook of CLINICAL NEPHROLOGY, 2nd edition, volume 2, Oxford University Press, pp. 558 – 578.
11.  Jennette.J.C., Falk R.J (1997), “Small – Vessel Vasculitis” N.Engl.J.Med., 337 (21), pp. 1512 – 1522.
12.  Lin S.J., Hung J.I. (1998), “Henoch – Schoelein purpura in Chinese children and adults”, Asian Pac J Allergy Immunol, 16(1), pp. 21 – 25.
13.  Nathan K. Gunasekaran T.S., Berman J.H. (1999), “Recurrent gastrointestinal Henoch -Schoelein purpura”. J Clin Gastroenterol, 29 (1), pp. 26.
14.  Rabinowitz L.G. (2000), “Henoch-Schoelein Purpura”, Textbook of pediatric Dermatology, 1st edition, pp. 1164 – 1568.
15.  Rieu P., Noel L. H. (1999), “ Henoch – Schoelein nephritis in children and adults. Morphological features and clinicophathological correlation”, Ann Med Interne (Paris), 150(2), pp. 151 – 159.
16.  Rostoker G. (2000), “Purpura rhumatoide (Syndrome de Schoelein – Henoch”, in: Kahn M.F., Peltier A.P., Meyer O., et al. (eds), Maladies et Syndrome systemiques. Medecine – Sciences – Frammarion, pp. 801 – 836.
17.  Rundles C.C. (1996), “Disorders of the IgA System”, in: Damjanov I., Lider J., eds, Immunologic Disorders in Infants & Children, 4th edition, W.B. Saunder company, pp. 423 – 426.
18.  Sticca M., BarcaS. Spallino L., et al. (1999), “Schoelein-Henoch syndrom: cilincal – epidemiological analysis of 98 cases”, Pediatr Med Chir, 21 (1), pp. 9 – 12.

19.  Szer I.S. (2000), “Henoch – Schoelein Purpura”, in: Klippel J.H., Dieppe P.A. (eds), Rheumatology, 2nd editon, Mosby, pp. 7 (28.1 – 28.4)